nhantuyetbinh

30 Jun

Hear Me Cry – Utada Hikaru
You couldn’t say
needed someone new
You actually thought
deep inside I knew

Can you tell me How can you say
Why this should suffice
You passed me by
and your heart as cold as ice
(You passed me by)

Did you see me cry
(Did you ask yourself why)
Did you see me cry
(Did you ask yourself how)
Can you hear me cry
(Did you ask yourself)
Will we ever grow apart

You, you couldn’t say
needed someone new
And you actually thought
deep inside I knew

I wonder where we will go
Will we be the same (You passed me by)
I laugh inside I think of you
and the love we made (You passed me by)

Tell me why this should suffice
I hold you through the night
Now will I let it go
Soon I’ll let it go

Can you hear me cry
(Will you ask yourself why)
Can you hear me cry
(Will you ask yourself how)
Can you hear me cry
(Will you ask yourself)
Will we ever grow apart

You, I’ll stand by your side
I’ll be there for you (You passed me by)
You, I’ll stand by your side
Please just do it right (You passed me by)

You, I’ll stand by your side
I’ll be there for you

nhantuyetbinh

30 Jun

Proud Of You – Fiona Fung
Love in your eyes
Sitting silent by my side
Going on Holding hand
Walking through the nights

Hold me up Hold me tight
Lift me up to touch the sky
Teaching me to love with heart
Helping me open my mind

I can fly
I’m proud that I can fly
To give the best of mine
Till the end of the time

Believe me I can fly
I’m proud that I can fly
To give the best of mine
The heaven in the sky

Stars in the sky
Wishing once upon a time
Give me love Make me smile
Till the end of life

Hold me up Hold me tight
Lift me up to touch the sky
Teaching me to love with heart
Helping me open my mind

I can fly
I’m proud that I can fly
To give the best of mine
Till the end of the time

Believe me I can fly
I’m proud that I can fly
To give the best of mine
The heaven in the sky

Can’t you believe that you light up my way
No matter how that ease my path
I’ll never lose my faith.

See me fly
I’m proud to fly up high
Show you the best of mine
Till the end of the time.

Believe me I can fly
I’m singing in the sky
Show you the best of mine
The heaven in the sky.

Nothing can stop me
Spread my wings so wide

SU TU DUONG

12 Jun

Tự tu dưỡng là yếu
tố quyết định trực tiếp trình độ đạo đức của mỗi học sinh.

- Sự hình thành và phát triển đạo đức của mỗi cá nhân là quá trình lâu dài
và phức tạp. Trong quá trình đó, các tác động bên ngoài và bên trong thường
xuyên tác động lẫn nhau và vai trò của mỗi yếu tố thay đổi theo từng giai đoạn
phát triển của con người. Sự hình thành đạo đức của các em do ảnh hưởng của tác
động bên ngoài mà trước hết là do tác động giáo dục của nhà trường, của tập
thể, của gia đình sẽ dần dần chuyển thành sự tự giáo dục mà trong đó sự tự tu
dưỡng là yếu tố cơ bản.

- Tự tu dưỡng về mặt đạo đức là một hành động tự giác, có hệ thống mà mỗi cá
nhân thực hiện đối với bản thân mình nhằm khắc phục những hành vi trái đạo đức
và bồi dưỡng những hành vi đạo đức của mình, thúc đẩy sự phát triển nhân cách.

- Tự tu dưỡng là một yêu cầu tự nhiên của cá nhân ở trình độ ý thức đã phát
triển. Mọi người đều cần làm cho mình tốt hơn, khắc phục những thói hư tật xấu,
phân biệt được điều thiện với điều ác.

Chính hoàn cảnh sống, sự giáo dục và kinh nghiệm của các em là nguồn gốc của
sự tự tu dưỡng đạo đức của các em.

- Điều kiện để tiến hành tự tu dưỡng :

  • Học sinh phải
    nhận thức được bản thân mình, đánh giá đúng mình, luôn có thái độ phê phán
    nghiêm túc đối với những hành vi đạo đức của mình.
  • Học sinh phải
    có viễn cảnh về cuộc sống tương lai, về lý tưởng của đời mình.
  • Học sinh phải
    có nghị lực và phải có ý chí mạnh.
  • Có sự giúp đỡ
    của tập thể, được dư luận tập thể đồng tình ủng hộ, được sự hướng dẫn của
    giáo viên…

- Chính vì vậy, người giáo viên cần giúp đỡ mỗi học sinh :

  • Nắm vững mục
    đích, phương pháp và tổ chức tự tu dưỡng của các em. Giáo viên cần hướng
    dẫn các em lập kế hoạch tự tu dưỡng. Trong kế hoạch tự tu dưỡng bao gồm
    những nét đạo đức mà các em cần rèn luyện, củng cố hay khắc phục.
  • Hiểu được tự tu
    dưỡng diễn ra trong quá trình hoạt động thực tiễn mới đem lại kết quả.
  • Biết tự kiểm
    tra, tự đánh giá thường xuyên

 

TRUYEN KIEU

12 Jun

TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU

 

 

Đề 10: Qua
việc tìm hiểu cốt truyện và các đoạn trích trong SGK ngữ văn 9, tập I, em hãy
phân tích nhân vật Thuý Kiều để làm nổi bật giá trị nhân đạo của Truyện Kiều.

 

 

Kiệt tác truyền
Kiều của đại thi hào Ng.Du có 2 giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị
nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo
(nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX – cuối Lê đầu Nguyễn), là tiếng nói của
thương cảm trước số phận (thời đại) bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố
cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và
những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng
tự do, công lý, khát vọng tình yêu hạnh phúc…

Tiếng nói nhân
đạo ấy toát lên từ hình tượng nhân vật Thuý Kiều trong truyện Thuý Kiều. Thuý
Kiều là hiện thân của nổi đau và bất hạnh. Nàng là một người con gái tài sắc,
giàu tình cảm nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập, đoạ đày.

Nhân vật Thuý
Kiều là hiện thân những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến trước
đây. Đời Kiều là một tấm gương oan khổ. Số phận Kiều hội đủ những bi kịch của
người phụ nữ. Tuy nhiên hai bi kịch lớn nhất ở Kiều là bi kịch tình yêu tan vỡ
và bi kịch bị chà đạp nhân phẩm.

Tình yêu Kim
Trọng- Thuý Kiều là một tình yêu lí tưởng với “Người quốc sắc,kẻ thiên tài”,
nhưng cuối cùng “giữa đường đứt gánh tương tư”, “nước chảy hoa trôi lỡ
làng”.
Tình yêu tan vỡ và không bao giờ hàn gắn được-tuy “màn đoàn viên”
có hậu về cơ bản cũng chỉ là “một cung gió thảm mưa sầu”.Hạnh phúc nàng
toan được nắm trong tay thì cuộc đời cướp mất.

Kiều là người
luôn có ý thức về nhân phẩm nhưng cuối cùng lại bị chà đạp về nhân phẩm. Nàng
trở thành “món hàng” để kẻ buôn người họ Mã “cò kè bớt một
thêm hai”.
Rồi nàng phải thất thân với những kẻ như Mã Giám Sinh, phải “Thanh
lâu hai lượt thanh y hai lần”
- Nổi đau nhất của cuộc đời Kiều chính là: “Thân
lươn bao quản lần đầu- chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”
. Có nổi đau
nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm, luôn có ý thức về nhân phẩm mà cuối
cùng phải tuyên bố từ bỏ nhân phẩm?

Đời Kiều không
phải chỉ là một tấm bi kịch, mà là những chuổi dài những bi kịch nối tiếp nhau,
mỗi lần nàng cố cất đầu ra khỏi bùn nhơ là một lần bị dúi xuống, bị đạp xuống
sâu thêm một tầng nữa.

Thuý Kiều là
hiện thân của một vẻ đẹp nhan sắc, tài hoa. Sắc và tài của Kiều đã đạt tới mức
lí tưởng. Thể hiện vẻ đẹp, tài năng của Kiều Ng.Du đã sử dụng bút pháp ước lệ
của văn học cổ có phần lí tưởng hoá để trân trọng một vẽ đẹp. “ Một hai
nghiêng nước nghiêng thành-sắc đành đồi một tài đành hoạ hai”.

Tâm hồn đẹp đẽ
của người con gái họ Vương thể hiện ở tấm lòng vị tha, nhân hậu. Nàng hi sinh
tình yêu để cứu gia đình, cha mẹ. Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ tới cha mẹ với
những tình cảm chân thực. Nàng tưởng tượng bóng dáng tội nghiệp “Tựa cửa hôm
mai”
của người sinh dưỡng Nàng. Kiều day dứt không nguôi vì một nổi là
không được chăm sóc cha mẹ già: “Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ”.
Thuý Kiều là người chí tình chí nghĩa “Ơn ai một chút chẳng quên”. Khi
có điều kiện, nàng đã trả ơn, hậu tạ những người cưu mang mình, nhưng nàng vẫn
thấy công ơn đó không gì có thể đền đáp nổi “Nghìn vàng gọi chút lễ
thường-mà lòng phiếu mẫu mấy vàng cho cân”.

Thuý Kiều là
hiện thân của nổi khát vọng tình yêu tự do, khát vọng hạnh phúc và khát vọng về
quyền sống.

Khát vọng tình
yêu tự do đậm màu sắc lãng mạn được thể hiện qua mối quan hệ Thuý Kiều- Kim
Trọng. Mới gặp chàng Kim lần đầu, hai bên chưa tiện nói với nhau một lời, mà
mối tình không lời ấy đã như một chén rượu nồng, khiến người ta choáng váng đê
mê:

“Tình
trong như đã mặt ngoài còn e

Chập
chờn cơn tỉnh cơn mê…”

Yêu nhau nàng
chủ động xây dựng tương lai với người yêu. Gót chân nàng thoăn thoắt đi sang
nhà Kim Trọng, cái hình ảnh nàng “Xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình”
Thật là nhiệt thành cho một mối tình đầu trong trắng. Ng.Du đã dành tất cả tài
năng và tâm huyết để viết lên một bản tình ca say đắm có một khong hai trong
lịch sử văn học ViệtNam.

Mối tình
Kim-Kiều vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến bằng tình yêu tự do , chủ động của
hai người. Khác với nhiều người phụ nữ xưa phải chịu sự sắp đặt của cha mẹ,
Kiều chủ động đến với tình yêu theo tiếng gọi của trái tim. Kiều táo bạo, chủ
động nhưng đồng thời cũng là người thuỷ chung nhất trong tình yêu.

Khát vọng về
hạnh phúc, về quyền sống đã đưa Kiều trở thành đại diện cho con người bị áp bức
vùng lên làm chủ số phận của mình trong tư thế chiến tháng, tư thế chính nghĩa:

“Nàng
rằng: Lồng lộn trời cao

Hại
nhân nhân hại sự nào tại ta”.

Ở đây, Thuý Kiều
đẫ gặp gở bao nhiêu người phụ nữ bị áp bức khác vùng lên đòi quyền sống, đòi lẽ
công bằng, trừng trị kẻ ác. “Cái thế giằng co giữa sự sống và sự chết ở
trong Tấm Cám, Thạch Sanh, trong nhiều truyện nôm khuyết danh khác cũng như
trong truyện Kiều, về căn bản nào có khác gì nhau, chỉ khác… Một bên nhiều
khi con người mượn yếu tố thần linh phụ trợ, một bên đã vươn tới tư tưởng trị
nhân dân và con người quyết định theo công lí của mình”- (Cao Huy Đỉnh)

Với nhân vật
Thuý Kiều Ng.Du là nhà nhân đạo chủ nghĩa rất mực yêu thương rất mực đề cao con
người, đề cao những khát vọng chân chính của con người- đặc biệt là thân phận
người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công, tàn bạo và lễ giáo phong
kiến.

 

PHAM CHAT NGUOI THAY

12 Jun

Thế giới quan khoa học

Trong phẩm chất nhân cách của người thầy, trước hết phải có thế giới quan khoa
học. Đây là yếu tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách, nó không những quyết
định niềm tin chính trị mà còn quyết định cả hành vi, cũng như ảnh hưởng của
người thầy với học sinh.

Thế giới quan của người thầy là thế giới quan của Mác – Lênin, bao hàm những
quan điểm duy vật biện chứng về các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và
tư duy, được hình thành dưới nhiều ảnh hưởng khác nhau. Đó là trình độ học vấn
của người thầy giáo; là việc nghiên cứu nội dung giảng dạy (ví dụ: qua toán học
thì phải thấy được sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng, văn học thì thấy
được ý nghĩa của điều kiện vật chất trong đời sống xã hội đến sự hình thành hệ
tư tưởng của tác giả và giá trị tinh thần của tác phẩm); là ảnh hưởng của toàn
bộ thực tế đất nước (kinh tế, khoa học, văn hóa, nghệ thuật…); là do việc
nghiên cứu triết học…

Thế giới quan của người thầy chi phối nhiều mặt hoạt động cũng như thái độ của
người thầy đối với các mặt hoạt động đó, như việc lựa chọn nội dung và phương
pháp giảng dạy và giáo dục, việc kết hợp giữa giáo dục với nhiệm vụ chính trị
của xã hội, cũng như phương pháp xử lý và đánh giá mọi biểu hiện của tâm lý của
học sinh.

Tóm lại, thế giới quan của Mác – Lênin là kim chỉ nam giúp người thầy đi tiên
phong trong đội ngũ những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng niềm tin
cho thế hệ trẻ và chống mọi biểu hiện của tư tưởng xa lạ.

Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ

Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ là hạt nhân trong cấu trúc nhân cách của người thầy
giáo, là “ngôi sao dẫn đường” và có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân
cách học sinh; lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ của người thầy biểu hiện bằng niềm
say mê nghề nghiệp, lòng yêu trẻ, lương tâm nghề nghiệp, sự tận tụy hy sinh với
công việc, tác phong làm việc cần cù và trách nhiệm, lối sống giản dị và thân
tình. Chúng tạo nên sức mạnh giúp người thầy vượt qua mọi khó khăn về tinh thần
và vật chất, hình thành nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam; lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ được hình thành và phát triển từ một quá
trình hoạt động tích cực trong công tác giáo dục.

Lòng yêu trẻ

Lòng yêu trẻ là một trong những phẩm chất đạo đức cao quý của con người, là một
phẩm chất đặc trưng trong nhân cách người thầy mà tập trung là sự nhiệt tâm,
thái độ ân cần và chu đáo.

Lòng yêu trẻ của người thầy được thể hiện qua các biểu hiện: cảm thấy sung
sướng khi được tiếp xúc với trẻ; có thái độ quan tâm đầy thiện ý và ân cần đối
với trẻ, kể cả em học kém và vô kỷ luật; giúp đỡ học sinh bằng ý kiến hay hành
động thực tế một cách chân thành và giản dị. Không bao giờ có thái độ phân biệt
đối xử, dù có những trẻ chưa ngoan và chậm hiểu; tuy nhiên, lòng yêu trẻ của
người thầy không thể pha trộn với những nét ủy mị, mềm yếu và thiếu đề ra yêu
cầu cao và nghiêm khắc đối với trẻ mà ngược lại. Tóm lại, thành công của người
thầy bắt nguồn từ một thứ tình cảm vô cùng sâu sắc, đó là tình yêu trẻ.

Lòng yêu nghề (yêu lao động sư phạm)

Lòng yêu trẻ và yêu nghề gắn bó chặt chẽ với nhau, lồng vào nhau. Càng yêu trẻ
bao nhiêu càng yêu nghề bấy nhiêu. Không có lòng yêu trẻ thì khó tạo ra cho
mình những động lực mạnh mẽ để phấn đấu vì sự nghiệp giảng dạy, vì lý tưởng
cách mạng. Người thầy phải luôn nghĩ đến việc cống hiến vì sự nghiệp đào tạo
thế hệ trẻ: Trong công tác giảng dạy và giáo dục, họ luôn làm việc với tinh
thần trách nhiệm cao, luôn cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy, không tự
thỏa mãn với trình độ hiểu biết và tay nghề của mình, luôn tìm hiểu và sáng
tạo, có niềm vui khi tiếp xúc với học sinh.

CAU TRUC HANH VI DAO DUC

12 Jun

2. Hành
vi đạo đức

- Hành vi đạo đức là một hành động tự giác,
được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức, hành vi đạo đức được
biểu hiện trong cách ứng xử, trong lối sống, trong giao tiếp, trong lời ăn
tiếng nói hàng ngày.

(Xã hội Việt Nam hiện là xã hội học tập để đáp
ứng những nhu cầu về tri thức, đầu tư cho giáo dục là đầu tư bắc cầu, vì thế để
hình thành hành vi đạo đức có rất nhiều yếu tố chi phối)

- Trong giáo dục đạo đức cho học sinh cần giáo
dục hành vi đạo đức cho học sinh, hành vi đạo đức ấy phải phù hợp với những
chuẩn mực đạo đức mà xã hội yêu cầu.

* Tiêu
chuẩn để đánh giá một hành vi đạo đức.

Giá trị
đạo đức của một hành vi được xét theo những tiêu chuẩn sau:

+ Tính tự giác của hành vi: Một hành vi được xem là hành vi đạo đức khi hành
vi đó được chủ thể hành động, ý thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa của hành vi.
Chủ thể tự giác hành động dưới sự thúc đẩy của những động cơ của chính chủ thể.
Hay nói cách khác là chủ thể hành vi phải có hiểu biết, có thái độ, có ý thức
đạo đức.

+ Tính có ích của hành vi: Đây là một đặc điểm nổi bật của hành vi đạo đức,
nó phụ thuộc vào thế giới quan và nhân sinh quan của chủ thể hành vi.

Trong xã hội hiện đại, một hành vi được coi là có
đạo đức hay không tuỳ thuộc ở chỗ nó có thúc đẩy cho xã hội đi lên theo hướng
có lợi cho công việc đổi mới hay không.

+ Tính không vụ lợi của hành vi đạo đức: Hành vi đạo đức phải là hành vi có mục đích vì
tập thể vì lợi ích chung, vì cộng đồng xã hội.

* Quan
hệ giữa nhu cầu đạo đức và hành vi đạo đức:

- Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu để đáp ứng đời
sống vật chất và tinh thần của con người.

- Nhu cầu là nguồn gốc, là động lực thúc đẩy hành
động.

→ Nhu cầu đạo đức nó nằm ngay trong hệ thống nhu
cầu cá nhân của con người. Trong mỗi một hoàn cảnh nhất định, do những điểu kiện
khác nhau quy định mà một số nhu cầu nào đó được nổi nên hàng đầu và dần xác
định được đối tượng thoả mãn nhu cầu đó. Khi đối tượng của nhu cầu đạo đức được
xác định thì động cơ đạo đức được hình thành.

→ Một hành vi đạo đức luôn luôn diễn ra trong một
hoàn cảnh cụ thể và ngược lại, trong một hoàn cảnh cụ thể thì động cơ đạo đức,
ý thức đạo đức được bộc lộ, được thể hiện một cách rõ nhất.

Kết luận:

- Động cơ đạo đức được bắt nguồn tư nhu cầu đạo
đức, nó quy định và thúc đẩy hành vi đạo đức chính trong quá trình đó.

- Nhu cầu đạo đức quy định hành vi đạo đức và
hành vi đạo đức cũng tác động trở lại nhu cầu đạo đức và làm nó biến đổi.

- Động cơ đạo đức có ý nghĩa tích cực hay tiêu
cực về mặt đạo đức khi hành vi đó trở thành hành vi đạo đức hay hành vi phi đạo
đức.

KLSP: Trong giáo dục đạo đức cho học sinh phải tiến hành tổ
chức các hành động, hoạt động trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà ở đó cá
nhân có cơ hội để bộc lộ động cơ và ý thức đạo đức tương ứng. Bởi vì chỉ có
hoạt động mới tạo ra hoàn cảnh có đạo đức, thúc đẩy hành vi đạo đức cũng như có
thể cải tạo được những hành vi vô đạo đức.

3. Câu
trúc tâm lý của hành vi đạo đức

3.1 Tri
thức đạo đức và niềm tin đạo đức

3.1.1 Tri thức đạo đức

Tư duy là một quá trình nhận thức, tư duy mở rộng
tầm nhận thức của con người (biết được quá khứ, dự đoán được tương lai)

Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của con
người về những chuẩn mực đạo đức mà nó quy định hành vi của họ trong mối quan
hệ của con người với người khác và với xã hội.

- Tri thức đạo đức là yếu tố quan trọng đầu tiên
chi phối tới hành vi đạo đức của con người. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa
hiểu biết các tri thức đạo đức khác với việc học thuộc lòng các tri thức đạo
đức.

3.1.2 Niềm tin đạo đức

- Niềm tin đạo đức đó là sự tin tưởng một cách
sâu sắc của con người vào tính đúng đắn, tính chân lý của các chuẩn mực đạo đức
và sự thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt để các chuẩn mực đạo đức đó.

- Niềm tin đạo đức là cơ sở để con người bộc lộ
những phẩm chất ý chí, phẩm chất đạo đức của mình.

* Các yếu tố để hình thành niềm tin đạo đức:

+ Giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội.

+ Mối quan hệ với bạn bè

+ Tìm hiểu từ lý thuyết như sách báo, các kênh
thông tin,…

3.2
Tình cảm đạo đức và động cơ đạo đức

3.2.1 Tình cảm đạo đức

- Tình cảm đạo đức là kim chỉ nam, là cơ sở nền
tảng tạo nên những tình cảm khác.

- Tình cảm đạo đức là thái độ, là sự rung cảm của
cá nhân đối với người khác và với xã hội

→ Trong cấu trúc nhân cách thì tình cảm đạo đức
luôn luôn là hạt nhân, nó định hướng nhân cách, chi phối thế giới quan, nhân
sinh quan của con người, nó chi phối đến mọi tình cảm khác của cá nhân.

3.2.2 Động cơ đạo đức

- Động cơ đạo đức là nguyên nhân bên trong đã
được con người ý thức, nó trở thành động lực chính, làm cơ sở cho mọi hoạt động
của con người trong mới quan hệ với người khác và với xã hội, từ đó biến hành
động của con người thành hành vi có đạo đức.

- Động cơ đạo đức vừa bao hàm ý nghĩa về mặt mục
đích, vừa bao hàm ý nghĩa về mặt nguyên nhân của hoạt động.

+ Với tư cách là mục đích của hành vi đạo đức,
thì động cơ đạo đức sẽ quy định chiều hướng tâm lý của hành động, quy định thái
độ của con người đối với hành động của mình.

Có thể nói, chính giá trị đạo đức của hành vi
được thể hiện ở mục đích của nó và trong thực tế có thể động cơ của hành động
mâu thuẫn với bản thân hành động.

+ Với tư cách là nguyên nhân của hành động, thì
động cơ đạo đức là động lực tâm lý giúp phát huy tối đa mọi sức mạnh vật chất
và tinh thần của con người, thúc đẩy con người hành động theo tri thức và niềm
tin đối với chuẩn mực đạo đức.

KLSP: Giáo dục đạo đức cho học sinh phải xây dựng cho các em
động cơ đạo đức bền vững để thúc đẩy hành vi đạo đức của các em.

3.3
Thiện chí, nghị lực và thói quen đạo đức

3.3.1 Thiện chí (ý chí đạo đức)

Ý chí đạo đức là ý chí của con người để hướng vào
việc tạo ra giá trị đạo đức.

3.3.2 Nghị lực đạo đức

Một hành vi đạo đức chỉ có thể thực sự xảy ra khi
có một sức manhj tinh thần nào đó, đó là sức mạnh của thiện chí, và thường được
gọi là nghị lực.

- Nghị lực là năng lực phục tùng ý thức của con
người. Nếu không có nghị lực, con người sẽ không vượt quan giới hạn cuả động
vật và hành động của con người khi đó sẽ bị nhu cầu của bản thân chế ước tuyệt
đối.

- Nghị lực cho phép con người buộc những nhu cầu,
nguyện vọng, ham muốn của cá nhân phục tùng ý thức đạo đức, giúp con người vượt
qua mọi khó khăn để hoàn thành các nhiệm vụ đã đề ra trong cuộc sống.

3.3.3 Thói quen đạo đức

Hoạt động tự động hoá bao gồm co kĩ xảo và thói
quen

Điểm
giống và khác nhau giữa kĩ xảo và thói quen:

- Giống nhau: Đều là những hoạt động tự động hoá

- Khác nhau:

+ Kĩ xảo mang tính kỹ thuật và thường gắn với một
hành động cụ thể, kĩ xảo được hình thành qua luyện tập.

+ Thói quen mang tính đạo đức và ăn sâu vào nếp
sống con người, thói quen được hình thành từ nhiều con đường khác nhau (như
luyện tập, tự phát, rèn luyện,…)

Thói quen
đạo đức là những là những hành vi đạo đức ổn định của con người, nó trở thành
những nhu cầu đạo đức của người đó. Nếu như nhu cầu này được thoả mãn thì con
người cảm thấy thoải mái dễ chịu và ngược lại.

Thói quen đạo đức được xem là phẩm chất đạo đức
trong nhân cách con người.

3.4 Mối
quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc của hành vi đạo đức

Các yếu tố tâm lý trong cấu trúc của hành vi đạo
đức có mối tương quan lẫn nhau:

- Tri thức đạo đức soi sáng con đường dẫn đến mục
đích của hành vi đạo đức

- Không phải tri thức đạo đức mà tình cảm đạo
đức, thiện chí đạo đức mới là cái phát động mọi sức mạnh vật chất và tinh thần
của con người

- Con người có tri thức đạo đức và niềm tin đạo
đức, có tình cảm và động cơ đạo đức, nghĩa là có ý thức đạo đức, có thiện chí,
nhưng chưa đảm bảo luôn luôn có hành vi đạo đức. Nói các khác, giữa ý thức đạo
đức và hành vi đạo đức còn có một khoảnh cách.

- Yếu tố làm cho ý thức đạo đức được thể hiện trong
hành vi đạo đức là thói quen đạo đức.

Tóm lại: Giáo dục đạo đức cho học sinh, thực chất là hình thành
những phẩm chất đựo đức cho học sinh, là tạo ra ở các em một cách đồng bộ các
yếu tố tâm lý nói trên

 

NANG LUC NGUOI THAY

12 Jun

2.1. Nhóm năng lực dạy học

a. Năng lực hiểu trình độ học sinh trong dạy học và giáo dục

- Năng lực hiểu trình độ học sinh trong dạy học và giáo dục là khả năng thâm
nhập vào thế giới bên trong của trẻ, sự hiểu biết tường tận về nhân cách của
chúng, cũng như năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lý của học sinh
trong quá trình dạy học và giáo dục.

- Năng lực hiểu học sinh được biểu hiện :

  • Xác định được
         khối lượng kiến thức đã có và mức độ, phạm vi lĩnh hội của học sinh. Từ đó
         xác định mức độ và khối lượng kiên thức mới cần trình bày trong công tác
         dạy học và giáo dục.
  • Dựa vào sự
         quan sát tinh tế, thầy giáo có thể nhận biết được những học sinh khác nhau
         đã lĩnh hội lời giảng giải của mình như thế nào, hoặc chỉ căn cứ vào những
         dấu hiệu dường không đáng kể mà có thể hiểu được những biến đổi nhỏ nhất
         trong tâm hồn học sinh, dự đoán được mức độ hiểu bài và có khi còn phát
         hiện được cả mức độ hiểu sai lệch của chúng.
  • Dự đoán được
         những thuận lợi và khó khăn, xác định đúng đắn mức độ căng thẳng cần thiết
         khi học sinh phải thực hiện những nhiệm vụ nhận thức.

Năng lực hiểu học sinh là kết quả của một quá trình lao động đầy trách
nhiệm, thương yêu học sinh và sâu sát học sinh, nắm vững môn mình dạy, am hiểu
đầy đủ về tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm cùng với một số phẩm chất tâm
lí khác như năng lực quan sát, óc tưởng tượng, khả năng phân tích và tổng hợp

b. Tri thức và năng lực hiểu biết của thầy giáo

- Đây là môït năng lực cơ bản của năng lực sư phạm, một trong những năng lực
trụ cột của nghề dạy học. Vì :

  • Do tiến bộ của
         khoa học, kỹ thuật, nên xã hội đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với
         trình độ văn hóa chung của thế hệ trẻ, mặt khác cũng làm cho hứng thú và
         nguyện vọng của thế hệ trẻ ngày càng phát triển.
  • Thầy giáo có
         nhiệm vụ phát triển nhân cách học sinh nhờ môït phương tiện đặc biệt là
         tri thức, quan điểm, kỹ năng, thái độ, nhất là những tri thức khoa học
         thuộc lĩnh vực giảng dạy của mình.
  • Tạo ra uy tín
         cho người thầy giáo.

- Người thầy giáo có tri thức và tầm hiểu biết rộng thể hiện ở chỗ :

  • Nắm vững và
         hiểu biết rộng môn mình phụ trách.
  • Thường xuyên
         theo dõi những thành tựụ mới trong lĩnh vực khoa học thuộc môn mình phụ
         trách.
  • Có năng lực tự
         học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri thức của mình.

- Để có năng lực này, đòi hỏi người thầy giáo cần có :

  • Có nhu cầu mở
         rộng tri thức và tầm hiểu biết.
  • Có những kỹ
         năng để làm thỏa mãn nhu cầu đó (phương pháp tự học).

c. Năng lực chế biến tài liệu học tập

- Năng lực chế biến tài liệu học tập là năng lực gia công về mặt sư phạm của
thầy giáo đối với tài liệu học tập nhằm làm cho nó phù hợp tối đa với trình độ,
với đặc điểm nhân cách học sinh và đảm bảo lôgic sư phạm.

- Năng lực chế biến tài liệu học tập được thể hiện :

  • Đánh giá đúng
         đắn tài liệu, xác lập được mối quan hệ giữa yêu cầu kiến thức của chương
         trình với trình độ nhận thức của học sinh .
  • Biết xây dựng
         lại tài liệu để hình thành cấu trúc bài giảng vừa phù hợp với lôgic nhận
         thức, vừa phù hợp với lôgic sư phạm, lại thích hợp với trình độ nhận thức
         của trẻ.

- Muốn làm được điều đó, thầy giáo cần phải đảm bảo những yêu cầu sau :

  • Có khả năng
         phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa kiến thức.
  • Phải có óc sáng
         tạo.

Óc sáng tạo của thầy giáo khi chế biến tài liệu thể hiện ở chỗ :

  • Trình bày tài
         liệu theo suy nghĩ và lập luận của mình, cung cấp cho học sinh những kiến
         thức sâu sắc và chính xác, có liên hệ vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.
  • Tìm ra những
         phương pháp mới, hiệu nghiệm để làm cho bài giảng đầy sức lôi cuốn và giàu
         cảm xúc tích cực
  • Nhạy cảm với
         cái mới và giàu cảm hứng sáng tạo.

d. Năng lực truyền đạt tài liệu (Nắm vững kỹ thuật dạy học).

Kết quả lĩnh hội tri thức phụ thuộc vào ba yếu tố : trình độ nhận thức của
học sinh, nội dung bài giảng và cách dạy của thầy.

- Chuẩn bị bài tốt nhưng muốn dạy học đạt kết quả cao, người thầy giáo phải
có năng lực truyền đạt tài liệu. Năng lực truyền đạt tài liệu là năng lực tổ
chức và điều khiển hoạt động nhận thức cho học sinh qua bài giảng.

- Năng lực này được thể hiện ở chỗ :

  • Nắm vững kỹ
         thuật dạy học mới, tạo cho học sinh ở vị trí “người phát minh” trong quá
         trình dạy học.
  • Truyền đạt tài
         liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với học sinh.
  • Gây hứng thú
         và kích thích học sinh suy nghĩ tích cực và độc lập.
  • Tạo ra tâm thế
         có lợi cho sự lĩnh hội, học tập.

- Việc hình thành một năng lực như vậy, nắm vững được kỹ thuật dạy học mới
nêu trên quả là không dễ dàng mà nó là kết quả của một quá trình học tập nghiêm
túc và rèn luyện tay nghề công phu.

e. Năng lực ngôn ngữ

- Năng lực ngôn ngữ là năng lực biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ, tình
cảm của mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ.

- Năng lực ngôn ngữ là một trong những năng lực quan trọng của người thầy
giáo. Nó là công cụ sống còn đảm bảo cho người thầy giáo thực hiện chức năng
dạy học và giáo dục của mình.

- Năng lực ngôn ngữ của thầy giáo cần đảm bảo các yêu cầu sau :

  • Nội dung ngôn
         ngữ phải sâu sắc :
  • Từ mỗi đơn vị
         biểu đạt đến toàn bài giảng, ngôn ngữ phải chứa đựng mật độ thông tin lớn,
         diễn tả, trình bày phải chính xác, cô đọng.
  • Lời nói, cách
         trình bày, diễn giảng phải đảm bảo tính luận chứng, tính kế tục tức là từ
         ý nghĩa này dẫn đến ý nghĩa khác một cách lôgic.
  • Nhân cách của
         thầy giáo là hậu thuẫn vững chắc và duy nhất cho lời nói của mình.
  • Hình thức ngôn
         ngữ của người thầy giáo phải giản dị, sinh động :
  • Lời nói giàu
         hình ảnh, biểu cảm với cách phát âm mạch lạc.
  • Lời nói không
         cầu kỳ, hoa mỹ, nhưng cũng không khô khan, tẻ nhạt, đừng dài dòng nhưng
         cũng đừng quá ngắn, khi cần có thể điểm qua một vài sự pha trò nhẹ nhàng
         và sự khôi hài đúng chỗ.
  • Phải có kỹ
         năng và kỹ xảo sử dụng khả năng truyền cảm của mình trước học sinh bằng
         cách tận dụng và phối hợp giữa lời nói với ngôn ngữ phụ và những phương
         tiện của ngôn ngữ .

2.2. Nhóm năng lực giáo dục

Năng lực giáo dục bao gồm :

a. Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh

- Đó là năng lực biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo, hình dung
trước cần phải giáo dục cho từng học sinh những phẩm chất nhân cách nào và
hướng hoạt động của mình để đạt tới hình mẫu trọn vẹn của con người mới.

- Năng lực này thường được biểu hiện ở chỗ :

  • Vừa có kỹ
         năng tiên đoán sự phát triển, vừa nắm được nguyên nhân và mức độ phát
         triển của học sinh.
  • Hình dung
         được hiệu quả của các tác động giáo dục nhằm hình thành nhân cách theo dự
         án.

- Để vạch dự án phát triển nhân cách học sinh, thầy giáo cần phải có :

  • Óc tưởng
         tượng sư phạm.
  • Tính lạc quan
         sư phạm, niềm tin vào sức mạnh giáo dục, tin vào con người.
  • Có óc quan
         sát sư phạm tinh tế.

Nhờ có năng lực này, công việc của giáo viên trở nên có kế hoạch và chủ động
hơn.

b. Năng lực giao tiếp sư phạm

- Năng lực giao tiếp sư phạm là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu
hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân,
đồng thời biết sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết
cách tổ chức điều khiển và điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích
giáo dục.

- Năng lực giao tiếp sư phạm được biểu hiện ở các kỹ năng chính như :

  • Kỹ năng
         định hướng giao tiếp
    : thể hiện ở khả năng dựa
         vào sự biểu lộ bên ngoài như : sắc thái biểu cảm, ngữ điệu thanh điệu của
         ngôn ngữ, cử chỉ, đông tác, thời điểm và không gian giao tiếp mà phán đoán
         chính xác về nhân cách cũng như mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh.
  • Kỹ năng
         định vị :
    đó là khả năng biết xác định vị trí
         trong giao tiếp, biết đặt vị trí của mình vào vị trí của đối tượng và biết
         tạo ra điều kiện để đối tượng chủ động, thoải mái giao tiếp với mình.
  • Kỹ năng
         điều khiển quá trình giao tiếp thể hiện ở
    : kỹ
         năng điều khiển đối tượng giao tiếp, kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc
         của bản thân và kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp.

*) Kỹ năng làm chủ trạng thái xúc cảm của bản thân : biết kiềm chế trạng
thái xúc cảm mạnh, khắc phụ những tâm trạng có hại, khi cần thiết có thể bộc lộ
những tình cảm mà lúc này không có hoặc có nhưng yếu ớt. Đó chính là biết điều
chỉnh và điều khiển các diễn biến tâm lí của mình cho phù hợp với hoàn cảnh
giao tiếp.

*) Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp. Phương tiện giao tiếp đặc trưng
của con người là lời nói. Kỹ năng này biểu hiện ở chỗ : giáo viên biết lựa chọn
những từ “đắt”, thông minh, hiền hòa, lịch sự…trong giao tiếp ; mặt khác biết
sử dụng những phương tiện phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười…

- Ngoài ra, thầy giáo còn có sự tiếp xúc với đồng nghiệp, với phụ huynh học
sinh, với các tổ chức xã hội khác. Thông qua sự giao tiếp này, thầy giáo đóng
góp công sức của mình vào việc thống nhất tác động giữa các lực lượng giáo dục,
tạo nên sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.

Việc rèn luyện năng lực giao tiếp không tách rời với việc rèn luyện các phẩm
chất của nhân cách.

c. Năng lực cảm hóa học sinh

- Năng lực cảm hóa học sinh là năng lực gây được ảnh hưởng trực tiếp của
mình bằng tình cảm và ý chí đối với học sinh. Nói cách khác đó là khả năng làm
cho học sinh nghe, tin và làm theo mình bằng tình cảm và niềm tin.

- Năng lực cảm hóa học sinh phụ thuộc vào một tổ hợp các phẩm chất nhân cách
người thầy giáo như :

  • Tinh thần
         trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác.
  • Niềm tin vào
         sự nghiệp chính nghĩa cũng như kỹ năng truyền đạt niềm tin đó
  • Lòng tôn
         trọng học sinh , phong cách dân chủ nhưng trên cơ sở yêu cầu cao đối với
         học sinh (cần tránh sự khoan dung vô nguyên tắc, sự cả tin một cách ngây
         thơ, sự thiếu kiên quyết của người thầy giáo…)
  • Sự chu đáo và
         khéo léo đối xử của giáo viên.
  • Lòng vị tha
         và các phẩm chất của ý chí.

- Để có năng lực này, thầy giáo cần :

  • Phải phấn đấu
         và tu dưỡng để có nếp sống văn hóa cao, phong cách sống mẫu mực nhằm tạo
         ra một uy tín chân chính và thực sự.
  • Xây dựng một
         quan hệ thầy trò tốt đẹp : vừa nghiêm túc, vừa thân mật; có thái độ yêu
         thương và tin tưởng học sinh; biết đối xử dân chủ và công bằng, chân thành
         và giản dị; biết phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.
  • Có tư thế,
         tác phong mẫu mực trước học sinh .

d. Năng lực đối xử khéo léo sư phạm

Trong quá trình giáo dục, thầy giáo thường đứng trước nhiều tình huống sư
phạm khác nhau đòi hỏi người thầy giáo phải giải quyết linh hoạt, đúng đắn và
có tính giáo dục cao. Sự khéo léo đối xử sư phạm là một thành phần quan trọng
của “tài nghệ sư phạm”.

- Sự khéo léo đối xử sư phạm là kỹ năng tìm ra những phương thức tác động
đến học sinh một cách hiệu quả nhất, là sự cân nhắc đúng đắn những nhiệm vụ sư
phạm cụ thể phù hợp với những đặc điểm và khả năng của cá nhân cũng như tập thể
học sinh trong từng tình huống sư phạm cụ thể .

- Năng lực này được biểu hiện :

  • Sự nhạy bén về
         mức độ sử dụng bất cứ một tác động sư phạm nào : khuyến khích, trách phạt…
        
  • Nhanh chóng
         xác định được vấn đề xảy ra và kịp thời áp dụng những biện pháp thích hợp.
        
  • Quan tâm đầy
         đủ,chu đáo, có lòng tốt, tế nhị, vị tha, có tính đến đặc điểm cá nhân từng
         học sinh .
  • Biết phát hiện
         kịp thời và giải quyết khéo léo những vấn đề xảy ra bất ngờ, không nóng
         vội, không thô bạo.
  • Biết biến cái
         bị động thành cái chủ động, giải quyết một cách mau lẹ những vấn đề phức
         tạp đặt ra trong công tác dạy học và giáo dục.

2.3. Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm

- Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm là khả năng tổ chức và cổ vũ học sinh
thực hiện các nhiệm vụ khác của công tác dạy học và giáo dục trong mọi hoạt
động của học sinh; Biết tổ chức lớp thành một tập thể đoàn kết, thân ái và có
kỹ luật chặt chẽ, đồng thời còn biết tổ chức và vận động nhân dân, cha mẹ học
sinh và các tổ chức xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục theo một mục tiêu
xác định.

- Để có được năng lực này, đòi hỏi người thầy giáo :

  • Biết vạch kế
         hoạch hoạt động cho tập thể học sinh, kết hợp yêu cầu trước mắt và lâu
         dài, đảm bảo tính nguyên tắc và tính linh hoạt của kế hoạch, biết vạch kế
         hoạch đi đôi với kiểm tra để đánh giá hiệu quả và sẵn sàng bổ sung kế
         hoạch.
  • Biết sử dụng
         đúng đắn các hình thức và phương pháp dạy học và giáo dục khác nhau nhằm
         tác động sâu sắc đến tư tưởng và tình cảm của học sinh.
  • Biết định mức
         độ và giới hạn của từng biện pháp dạy học và giáo dục khác nhau.
  • Có nghị lực và
         dũng cảm tin vào sự đúng đắn của kế hoạch và các biện pháp giáo dục.
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.