THANH GIONG

1.Truyện “Thánh Gióng” là tác phẩm lớn
đầu tiên về đề tài giữ nước chống xâm lược, mở đầu cho dòng văn học yêu nước
chống ngoại xâm phát triển khá liên tục, mạnh mẽ và có nhiều thành tựu xuất sắc
của dân tộc Việt Nam.

Truyện này rất giàu yếu tố thần thoại, nhưng căn bản nó là một truyền thuyết.
Chức năng chủ yếu của thể loại truyền thuyết là phản ánh nhận thức và lý giải
lịch sử (bao gồm lịch sử quốc gia, dân tộc, bộ tộc, địa phương). Nhưng đi vào
truyền thuyết dân gian, lịch sử đã được nhào nặn lại theo quan niệm và lý tưởng
thẩm mỹ của nhân dân.

Ở truyện Thánh Gióng, cái “lõi” lịch sử là gì? Nó đã được “lý
tưởng hóa” như thế nào? “Tâm tình thiết tha”, “thơ và
mộng” của nhân dân đã được “gửi gắm” ra sao? Đó là những điều
rất đáng quan tâm tìm hiểu.

Dưới hình thức kể sự tích người anh hùng làng Phù Đổng, truyện Thánh Gióng đã
phản ánh khá toàn diện và khái quát, sinh động và cụ thể cuộc chiến đấu hào
hùng chống giặc Ân xâm lược trong thời kỳ Văn Lang (tương truyền vào đời Hùng
Vương thứ sáu).

Đây là những trang sử chống xâm lược đầu tiên của dân tộc Việt Nam được ghi vào
truyền thuyết. Truyền thuyết này không chỉ biểu dương, ca ngợi mà còn tổng kết,
lý giải nguyên nhân của thắng lợi.

Đó là sự trả lời (bằng truyện kể) cho một câu hỏi lớn: Tại sao và nhờ đâu mà
nước Văn Lang của vua Hùng đã đánh thắng được giặc Ân xâm lược?

Truyền thuyết dân gian đã trả lời một cách ngắn gọn và đơn giản rằng: đó là do
Thánh Gióng và nhờ Thánh Gióng. Thánh Gióng là sự khái quát hóa, hình tượng hóa
và lý tưởng hóa toàn bộ quá trình sinh ra, lớn lên, chiến đấu và chiến thắng
của đội quân chống xâm lược đầu tiên của Việt Nam trong thời kỳ Văn Lang.

Đội quân này có những đặc điểm gì và nó đã được hình thành, phát triển như thế
nào?

Trước hết, đó là một đội quân có sức mạnh phi thường, bao gồm cả sức mạnh của
con người và sức mạnh của vũ khí.

Trong sức mạnh của con người có cả sức mạnh của thể lực, của cánh tay và sức
mạnh của tinh thần, ý chí. Không có thể lực và ý chí chiến đấu phi thường, làm
sao Thánh Gióng có thể nhổ từng bụi tre “đằng ngà” (sau khi
“gươm sắt” hoặc “roi sắt” bị gẫy) để tiếp tục truy kích và
đánh tan giặc Ân xâm lược được.

Những chi tiết mang tính chất hoang đường, kỳ diệu như: bé Gióng lên ba vẫn nằm
trơ không nói, không cười, nhưng khi nghe lời rao của sứ giả (cầu người hiền
tài ra giết giặc cứu nước), bỗng vươn vai đứng dậy và cao lớn vụt lên thành
người khổng lồ… đều là sự hình tượng hoá và thần thánh hóa mối quan hệ và sự
phát triển nhanh chóng về tinh thần, vật chất của lực lượng kháng chiến.

Ở truyện Thánh Gióng, vai trò, tác dụng của vũ khí và phương tiện chiến đấu
được tác giả nhận thức và phản ánh khá sâu sắc và sinh động. Sự đề cao, ca ngợi
và thần thánh hóa các loại phương tiện và vũ khí bằng kim loại (ngựa sắt, gươm
sắt, áo giáp sắt) ở đây, chẳng những không hạ thấp hoặc làm lu mờ vai trò, tác
dụng của các loại vũ khí thô sơ, thông thường, mà trái lại còn có tác dụng
khẳng định và nhấn mạnh sự cần thiết phải đồng thời sử dụng cả hai loại vũ khí
ấy.

Những chi tiết: Gióng phi ngựa sắt, vung gươm sắt xông vào trại giặc làm cho
chúng “chết như ngả rạ”; nhưng “giữa chừng gươm sắt bị
gẫy”, Gióng phải nhổ tre “đằng ngà” đánh tiếp…, đã thể hiện
rất rõ điều đó.

II

Một điều quan trọng cần chú ý là đội quân chống xâm lược và sức mạnh phi thường
của nó ở trong truyện Thánh Gióng không phải tự nhiên mà có và cũng không phải
là nhất thành bất biến mà đó là một đội quân, một sức mạnh có tổ chức, có nuôi
dưỡng, chuẩn bị công phu, có quá trình sinh ra, lớn lên rõ rệt, cụ thể và hợp
lý.

Về sau, Gióng được nhân dân tôn xưng là “Thánh” và được nhà vua phong
là “Phù Đổng Thiên Vương” (Vua người nhà trời ở làng Phù Đổng) nhưng
căn bản và trước hết Gióng là một Con Người, một người con của “làng Phù
Đổng”, thuộc “bộ Vũ Ninh”, “nước Văn Lang”, đời Hùng
Vương thứ sáu. Nguồn gốc, lai lịch và địa chỉ của Gióng thật rõ ràng, cụ thể và
xác định.

Những chi tiết về sự thụ thai của bà mẹ Gióng (như bà bắt đầu có thai Gióng sau
khi bà ướm thử bàn chân mình vào vết chân người khổng lồ in trên đồng, bà mang
thai Gióng “12 tháng” mới sinh…), đều chỉ là sự thần thánh hóa để
đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có nguồn gốc siêu nhiên, thần
thánh khác thường. Nhưng nhìn chung, những yếu tố kỳ diệu, khác thường trong
nhân vật Gióng tuy khá nổi bật nhưng cũng không thể lấn át và thay thế được cái
bình thường của con người trần thế.

Bởi vì dù có siêu nhiên kỳ ảo đến đâu, Gióng vẫn phải “nằm trong bụng
mẹ” (dù là mấy tháng), vẫn phải “uống nước, ăn cơm với cà” (dù
là mấy nong), vẫn phải mặc quần áo bằng vải của dân làng Phù Đổng (dù là cỡ
rộng đến đâu). Và ngay cả ngựa sắt, gươm sắt, áo giáp sắt, nón sắt của Gióng
cũng là do vua Hùng tập hợp những người thợ rèn tài giỏi ở trong nước đúc nên.
Quá trình xuất hiện, trưởng thành và chuẩn bị vũ khí chiến đấu của Gióng phản
ánh khá rõ quá trình xây dựng lực lượng vũ trang chống xâm lược của dân tộc. Ở
đây có sự kết hợp giữa Nhà nước (tiêu biểu là vua Hùng) và nhân dân (tiêu biểu
là Gióng và nhân dân làng Phù Đổng), giữa sức mạnh của con người và sức mạnh
của vũ khí.

Vai trò của “sứ giả” và tác dụng của “tiếng rao” được tác
giả dân gian đặc biệt chú ý. Tiếng rao của sứ giả, đó là lời hiệu triệu của vua
Hùng, là tiếng gọi của non sông khi quân thù tràn đến, Tổ quốc lâm nguy. Lực
lượng chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc bình thường tiềm ẩn trong
nhân dân (tương tự như chú bé làng Gióng nằm im không nói, không cười), nhưng
khi có giặc thì tiếng gọi của non sông đã tập hợp, thức tỉnh tất cả các lực
lượng tiềm ẩn ấy của dân tộc và làm nên Thánh Gióng. Đó là một chân lý, một quy
luật quan trọng về xây dựng, tổ chức, phát triển lực lượng chống ngoại xâm, bảo
vệ Tổ quốc mà cha ông đã sớm nhận thức tổng kết và truyền lại cho đời sau bằng
truyền thuyết xuất sắc này.

Khi chưa có giặc, Gióng là đứa trẻ nằm im không biết nói, khi nghe tiếng gọi
của non sông, Gióng vụt lớn lên và cất lời nhận nhiệm vụ, đánh tan giặc, Thánh
Gióng bay về trời.

Quá trình phát triển của hình tượng Thánh Gióng dồi dào ý nghĩa nhân sinh,
triết lý và nên thơ, nên họa biết bao

2.Truyền thuyết “Thánh Gióng” là tác phẩm
lớn đầu tiên về đề tài giữ nước chống kẻ thù xâm lược, mở đầu cho dòng văn học
yêu nước chống ngoại xâm. Yếu tố thần thoại, truyền thuyết dân gian, lịch sử đã
được nhào nặn lại theo quan niệm và lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân. Cái
“lõi” lịch sử ở truyện Thánh Gióng đã được lý tưởng hóa với tâm tình
thiết tha của nhân dân gửi gắm vào đó. Qua sự tích người anh hùng làng Phù
Đổng, truyện Thánh Gióng đã phản ánh khá toàn diện và khái quát, sinh động và
cụ thể cuộc chiến đấu hào hùng chống giặc Ân xâm lược trong thời kỳ Văn Lang.
Đây là những trang sử chống xâm lược đầu tiên của dân tộc ta được ghi vào
truyền thuyết không chỉ mang ý nghĩa biểu dương, ca ngợi mà còn tổng kết, lý
giải nguyên nhân của chiến tranh và thắng lợi.

Thánh Gióng là sự khái quát hóa, hình tượng hóa và lý tưởng hóa
toàn bộ quá trình sinh ra, lớn lên, chiến đấu và chiến thắng của đội quân chống
xâm lược đầu tiên của Việt Nam ở thời kỳ Văn Lang. Trước hết, đó là một đội
quân có sức mạnh phi thường, bao gồm cả sức mạnh của con người và sức mạnh của
vũ khí. Trong sức mạnh của con người có cả sức mạnh của thể lực và sức mạnh của
tinh thần, ý chí. Thánh Gióng là nhân vật huyền thoại mà nhân dân muốn gửi gắm
ý chí chiến đấu phi thường qua kỳ tích nhổ từng bụi tre “đằng ngà”
(sau khi “gươm sắt” hoặc “roi sắt” bị gẫy) để tiếp tục truy
kích và đánh tan giặc Ân. Những chi tiết mang tính chất hoang đường, kỳ diệu,
như: Gióng lên ba vẫn nằm trơ không nói, không cười, nhưng khi nghe lời rao của
sứ giả (cầu người hiền tài ra giết giặc cứu nước), bỗng vươn vai đứng dậy và
cao lớn vụt lên thành người khổng lồ… đều là sự hình tượng hoá và thần thánh
hóa mối quan hệ và sự phát triển nhanh chóng về tinh thần, vật chất của lực
lượng kháng chiến.

Ở truyện Thánh Gióng, vai trò, tác dụng của vũ khí và phương tiện
chiến đấu được tác giả nhận thức và phản ánh khá sâu sắc và sinh động. Sự đề
cao, ca ngợi và thần thánh hóa các loại phương tiện và vũ khí bằng kim loại
(ngựa sắt, gươm sắt, áo giáp sắt) chẳng những không hạ thấp hoặc làm lu mờ vai
trò, tác dụng của các loại vũ khí thô sơ, thông thường, mà trái lại còn có tác
dụng khẳng định và nhấn mạnh sự cần thiết phải đồng thời sử dụng cả hai loại vũ
khí ấy. Đội quân chống xâm lược và sức mạnh phi thường của nó ở trong truyện
Thánh Gióng không phải tự nhiên mà có và cũng không phải là nhất thành bất biến
mà đó là một đội quân thể hiện sức mạnh có tổ chức, được nuôi dưỡng, chuẩn bị
công phu, có quá trình hình thành, phát triển rõ rệt, cụ thể và hợp lý.

Kỳ tích ấy, Gióng được nhân dân tôn xưng là “Thánh”,
được nhà vua phong là “Phù Đổng Thiên Vương” nhưng căn bản và trước
hết Gióng vẫn là một Con Người – một người con của làng Phù Đổng, thuộc bộ Vũ
Ninh, nước Văn Lang, đời Hùng Vương thứ sáu. Nguồn gốc, lai lịch và địa chỉ của
Gióng được xác định rõ ràng, cụ thể. Cả cái tên Gióng cũng hết sức dân dã.
Gióng thầm lặng như cái bản nhiên của người lao động, chỉ nói một câu “xin đi
đánh giặc”. Cái vươn vai “lớn 10 trượng” cũng là để nhận nhiệm vụ đánh giặc cao
cả khi đất nước lâm nguy. Sự xuất hiện của bàn chân khổng lồ trên đồng ruộng
không phải xác lập cái ngôi thiên tử cho Gióng mà chỉ là một biểu tượng cho sự
hoà hợp giữa đất và trời, giữa thần linh và người mẹ nông dân đã cho ra đời một
anh hùng quần chúng. Những chi tiết về sự thụ thai của bà mẹ Gióng (ướm thử bàn
chân mình vào vết chân người khổng lồ in trên đồng, mang thai 12 tháng…), đều
chỉ là sự thần thánh hóa để đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có
nguồn gốc siêu nhiên, thần thánh khác thường. Nhưng dù khoác lên nhiều yếu tố
kỳ diệu, khác thường, Thánh Gióng vẫn không thể lấn át và thay thế được cái
bình thường của con người trần thế. Dẫu có siêu nhiên kỳ ảo, Gióng vẫn phải
“nằm trong bụng mẹ” (dù là 12 tháng); vẫn phải “uống nước, ăn ba
nong cơm, bảy nong cà” với bao công sức gom góp từ quần chúng (dù là mấy nong);
vẫn phải mặc quần áo bằng vải của dân làng Phù Đổng (dù là rộng đến đâu); đánh
giặc xong không về triều mà bay về trời, về với cõi bất tử, với cõi hư không
cho thấy ý chí phục vụ đất nước vô tư thật là gương mẫu [1], nhưng vẫn không
quên cúi đầu chào đất Mẹ; và ngay cả ngựa sắt, gươm sắt, áo giáp sắt, nón sắt
của Gióng cũng là do vua Hùng tập hợp những người thợ rèn tài giỏi ở trong nước
đúc nên…

Quá trình xuất hiện, trưởng thành và chuẩn bị vũ khí chiến đấu của
Gióng phản ánh khá rõ quá trình xây dựng lực lượng vũ trang chống xâm lược của
dân tộc. Dấu tích của người anh hùng vẫn hiện hữu trong mảnh đất quê hương.
Những bụi tre đằng ngà (giống tre có lớp cật ngoài trơn và bóng, mầu vàng) ở
huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả mầu vàng óng; những vết chân
ngựa nay thành những hồ ao; ngựa thét, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng
đó về sau gọi là làng Cháy (ở cạnh làng Gióng).

Có thể nói, truyền thuyết Thánh Gióng đã có sự kết hợp giữa Nhà
nước (tiêu biểu là vua Hùng) và nhân dân (tiêu biểu là Gióng và nhân dân làng
Phù Đổng), giữa sức mạnh của con người và sức mạnh của vũ khí mà lòng yêu nước
đã trở thành một truyền thống quý báu. Điều đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước
”. Tiếng
rao của sứ giả là lời hiệu triệu của vua Hùng, là tiếng gọi của non sông khi
quân thù tràn đến, khi Tổ quốc lâm nguy. Lực lượng chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ
quốc của dân tộc bình thường tiềm ẩn trong nhân dân (như chú bé làng Gióng nằm
im không nói, không cười), nhưng khi có giặc ngoại xâm thì tiếng gọi của non
sông đã tập hợp, thức tỉnh tất cả các lực lượng tiềm ẩn ấy của dân tộc, Gióng
vụt lớn lên và câu nói đầu tiên là nhận nhiệm vụ đánh giặc. Thánh Gióng tập
trung cho ý chí của nhân dân, khi đất nước lâm nguy đã đặt lên vai mình sứ mệnh
lịch sử lớn lao. Đó là một chân lý, một quy luật quan trọng về xây dựng, tổ
chức, phát triển lực lượng chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc mà cha ông đã sớm
nhận thức tổng kết và truyền lại cho đời sau bằng truyền thuyết xuất sắc này.
Chính điều đó đã làm nên một Thánh Gióng bất tử. Một Thánh Gióng đã đi vào tâm
thức người Việt một cách tự nhiên dẫu thời gian biến đổi vạn vật.

Không chỉ mang ý nghĩa đánh giặc, truyền thuyết
Thánh Gióng còn đánh dấu bước ngoặt đặc biệt của dân tộc Việt Nam thời kỳ sơ sử, tiền sử ở lĩnh
vực nông nghiệp. Công cụ đồ sắt được quy tụ vào vũ khí đánh giặc thay thế cho
công cụ đồ đồng, đồ đá. Người Việt có tấc sắt trong tay đã mở rộng địa bàn cư
trú từ núi cao xuống vùng châu thổ thấp. Việc phát hiện ra đồ sắt được nhân
cách hóa để trở thành một vị thần vĩ đại cho thấy sức mạnh của nó trong công
cuộc chế ngự thiên nhiên và đánh giặc. Người Việt xây dựng một quốc gia, một
dân tộc đầy đủ khi đã khai phá châu thổ Bắc Bộ. Cũng chính từ vùng thấp này,
người Việt mới tạo đà để phát triển, tiến tới một đất nước to lớn, thống nhất
của cộng đồng như ngày nay…

Vì thế, nhân vật Gióng là lẽ sống hồn nhiên vô tư của người lao
động. Cái “hoang đường” trong truyền thuyết chẳng còn là hoang đường bởi nó
luôn đứng trên đôi chân của hiện thực. Quá trình phát triển của hình tượng
Thánh Gióng dồi dào ý nghĩa nhân sinh, triết lý và nhân văn.

Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương là anh hùng văn hóa sinh từ
thời cổ đại, tiền sử. Trong quá trình phát triển của cư dân Việt, vị anh hùng
văn hóa ấy thường được gắn với các sự kiện lớn, được sử hóa bất tử trong tâm
tưởng người Việt. Huyền thoại ấy đã và đang sống hiện hữu trong cuộc sống hiện
đại. Mỗi người Việt Nam
hẳn không quên huyền thoại bất tử này. Trong các bài nói chuyện, Hồ Chí Minh
nhiều lần nhắc tới người anh hùng dân tộc. Trong Diễn văn khai mạc lễ kỷ niệm
30 năm ngày thành lập Đảng, Người khẳng định: “Đảng ta vĩ đại thật. Một
ví dụ trong lịch sử ta có ghi chuyện vị anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng
gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong những ngày đầu kháng chiến Đảng ta đã
lãnh đạo hàng nghìn, hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng dùng gậy tầm vông
đánh thực dân Pháp
“. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những
vần thơ ra trận sống động kêu gọi tinh thần yêu nước tiềm ẩn, đến “Mỗi chú
bé đều nằm mơ ngựa sắt
” (Chế Lan Viên), rồi “những trai làng Phù Đổng
mang “chiếc gậy tầm vông” nô nức lên đường “ra trận mùa xuân
(Gia Dũng). Và trong thời kỳ hội nhập, sức mạnh Phù Đổng vẫn được tiếp nối thể hiện
sức mạnh và bản lĩnh ViệtNam…

Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là hào khí của
bản hùng ca hoành tráng từ ngàn xưa vọng lại; là niềm tự hào, kính trọng về sức
mạnh đoàn kết của dân tộc trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Bên
cạnh đó, Thánh Gióng còn là bản tình ca tuyệt đẹp về tình mẫu tử, về trách
nhiệm của con người đối với Tổ quốc. Hàng ngàn năm trôi qua, với truyền thống
“Uống nước nhớ nguồn”, dân tộc ta luôn nhắc nhau:

“Ai ơi mồng chín tháng tư

Không đi hội
Gióng cũng hư mất đời”

3.Truyền thuyết Thánh
Gióng và cuộc kháng chiến toàn dân chống ngoại xâm

Tìm hiểu truyền thuyết Thánh
Gióng, chúng ta sẽ gặp một điều hết sức đặc biệt, đó là chiều sâu, chiều rộng
của cuộc kháng chiến, là sự đóng góp của nhân dân vùng trung châu trong công
cuộc chống giặc ngoại xâm. Trước khi Gióng ra đời, vùng ven sông Tô Lịch (Hà
Nội) đã có ông Lý Tiến vâng mệnh vua Hùng cầm quân chống giặc. Trong trận chiến
ở Vũ Ninh (nay là Quế Võ) , không may ông bị tên bắn vào ngực chết (ngày nay ở
phố Hàng Cá, Hà Nội ,còn đền thờ ông). Sau Lý Tiến có hai anh em ông Dực và ông
Minh (ở Hà Lỗ, nay thuộc Đông Anh) cũng đánh giặc Ân nhưng không thắng. Khi
Gióng ra quân, hai ông đã hội quân với Gióng để đánh giặc.

Để chuẩn bị vũ khí cho Gióng, dân
chúng đã phải tập hợp toàn bộ thợ rào (tức thợ rèn) của ba làng Phù Đổng (quê
Gióng), Làng Mòi (tức Mai Cương), và Làng Na (tức Y Na) để rèn vũ khí. Khi
Gióng ra quân, người theo ra trận rất đông: Đoàn trẻ chăn trâu làng Hội Xá,
người đi câu vác cả cần câu, người đi săn vác cả cung nỏ, hổ (bị người săn) giờ
cũng nhập vào đoàn quân của Gióng. . . Ở Trung Mầu (Gia Lâm) có người đang cầm
vồ đập đất cũng vác vồ đi theo. Ở Võ Giàng có hai anh em đang đập đất cũng vội
vàng đi theo. Ở làng Na có năm anh em sinh năm cũng mộ quân đi theo Gióng. . .
Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Gióng đã là thần tướng giáng sinh với sức mạnh
diệu kỳ, từng nhổ cả bụi tre mà quật vào giặc, lại có ngựa sắt phun lửa, vậy
thì cần gì phải có quân đi theo cho vướng bận ? Thực ra, ngựa sắt phun lửa, người
khổng lồ chẳng qua là hình ảnh đã được thần thoại hóa. Có lẽ Gióng cũng có tầm
vóc của . . .người bình thường. Ông chỉ có lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu hơn
người. Khi có giặc, ông đã tập hợp được đông đảo lực lượng kháng chiến cả một
vùng rộng lớn ở trung châu để đánh giặc. Lực lượng nhân dân với đủ các tầng lớp
đó mới là sức mạnh thắng giặc chứ đâu phải ngựa sắt ! Nhà thơ Tố Hữu sau này đã
có câu thơ rất hay để khái quát sức mạnh của Thánh Gióng :

Sức nhân dân khỏe như ngựa
sắt

Chí căm thù rèn thép làm roi

Về sự hi sinh của Gióng, truyền
thuyết kể rằng, sau khi gặc tan, Gióng một mình một ngựa lên núi Sóc Sơn rồi
phi thẳng lên trời ! Đây rõ ràng là hình ảnh thần thoại hóa cái chết của người
anh hùng. Nhân dân ta không muốn để cho người anh hùng dân tộc phải hi sinh.
Cũng như truyền thuyết về An Dương Vương đã cho ông cầm sừng tê đi xuống biển,
thực chất là ông đã phải trẫm mình tự vẫn. Nhưng truyền thuyết cũng đã để “hở”
(vô tình) cho chúng ta biết rằng Gióng đã hi sinh sau khi đánh tan giặc. Những
chỗ “hở” trong truyền thuyết, trước hết là áo giáp sắt của Gióng không kín. Khi
Gióng ra trận, những trẻ chăn trâu làng Hội Xá thấy áo giáp của Gióng còn hở
lưng, hở bụng đã lấy hoa lau giắt vào cho kín. Hoa lau thì làm sao cản được
cung tên? Chi tiết thứ hai để cho ta suy đoán Gióng bị thương, đó là trên đường
thắng giặc trở về, ông đã nhiều lần dừng lại uống nước. Đây là triệu chứng của
cơn khát do mất máu. . Một chi tiết nữa để ta khẳng định Gióng bị trọng thương,
đó là sau khi thắng giặc, ông đã không trở về ra mắt mẹ. Gióng không muốn mẹ
nhìn thấy mình đầy thân máu chảy càng thêm đau khổ, chính vì vậy ông đã một
mình một ngựa lên vùng núi Sóc Sơn và chết ở đó. ( Có một số tác giả giải
thích: Sau khi thắng giặc, Gióng không về ra mắt mẹ vì ông vô tư, chỉ nghĩ việc
nước mà quên tình nhà(!)

Qua phân tích trên, ta thấy được
cốt lõi của sự thật lịch sử: Vào buổi bình minh dựng nước, đã có một người anh
hùng trẻ tuổi đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm và anh dũng hi sinh. Ông đã
được nhân dân ta đời đời thờ phụng. Xét trong lịch sử dân tộc ta , trường hợp
tương tự cũng không hiếm. Thời Lý có cô gái 9 tuổi tên là Trần Ngọc Hoa đã theo
Lý Thường Kiệt đi đánh giặc Chiêm Thành, lập được công lớn và được dân lập đền
thờ ở làng Đại Yên, quận Ba Đình, Hà Nội. Thời Trần có Trần Quốc Toản mới 15
tuổi đã cầm quân đánh quân Nguyên và đã lập được công lớn được sử sách ghi lại.
Vậy thì trong lịch sử xa xưa của dân tộc , một vị anh hùng nhỏ tuổi lập được kỳ
tích chống giặc ngoại xâm không có gì là lạ (tất nhiên , truyền thuyết kể Thánh
Gióng 3 tuổi đánh giặc chỉ là cách nói cường điệu mà thôi, không nên quá tin
vào con số cụ thể 3 tuổi đó)

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: